Joomla Templates and Joomla Extensions by ZooTemplate.Com
Sample Data-Articles: Đang cập nhật - Thứ bảy, 03 Tháng 11 2012 16:51
Blue Grey Red
Những cách tạo em bé hoàn hảo trong tương lai Anh coi tình yêu của tôi như một trò chơi Kinh hoàng vợ gọi phi công trẻ đến giết chồng lúc quá nửa đêm Cởi áo trao thân: Nàng dễ dãi hay chàng ích kỷ? Mẹ chồng chì chiết vì chúng tôi không hợp tuổi Tôi đã sai lầm khi chọn chồng Vướng víu vì da đầu Chồng xem vợ đẻ, chẳng hay ho gì! Chồng bắt bỏ công việc tốt để vào làm nhà nước Một phút lỡ tay, người đàn bà 10 năm bị bạo hành vào tù vì tội giết chồng Cưới xong, chồng thông báo có con riêng “Nếu mẹ đi làm, ở nhà bố bắt con làm vợ đấy” 13 năm làm vợ, tôi chưa một lần được 'lên đỉnh' Bí kíp gia truyền 'Phi công trẻ' thiêu xác người tình hơn chục tuổi trả giá đắt Cay đắng phận con dâu nhà giàu Tôi chỉ thích sex với người cũ Bị đánh dập đầu gối vì bắt quả tang chồng cặp bồ Mâu thuẫn với bạn gái, nam thanh niên lao đầu vào ô tô chết thảm 8 hành vi tình dục cần tránh xa 5 sự thật về cuộc sống sau đám cưới mà ít ai ngờ Ế vì

Những cách tạo em bé hoàn hảo trong tương lai

Công nghệ rà soát gen, đông lạnh trứng lâu hơn, em bé có 3 bố mẹ... là những cách giúp có được em…

Anh coi tình yêu của tôi như một trò chơi

Lúc thì anh nói rất là yêu em nhưng lúc anh quay lưng lại với em thì vô cùng phũ phàng. Còn em,…

Kinh hoàng vợ gọi phi công trẻ đến giết chồng lúc quá nửa đêm

Đám tang đột ngột phải tạm dừng khi các con nạn nhân được thông báo về những vết tích bất thường trên thi…

Cởi áo trao thân: Nàng dễ dãi hay chàng ích kỷ?

Một người phụ nữ sẵn sàng lên giường với người đàn ông mới gặp liệu họ có quá dễ dãi. Nhưng theo cách…

Mẹ chồng chì chiết vì chúng tôi không hợp tuổi

Mẹ chồng đi xem bói nói rằng chúng tôi lấy nhau sẽ không thể giàu sang phú quý được. Bà còn bảo từ…

Tôi đã sai lầm khi chọn chồng

Giá như ngày ấy tôi nghe lời bố mẹ, không mù quáng trong tình yêu thì bây giờ chắc tôi không khổ.

Vướng víu vì da đầu "cậu nhỏ" quá dài

GiadinhNet - Với chiêu PR “kích thích hưng phấn tức thì” và cho “chuyện ấy” mỹ mãn, thuốc kích dục không chỉ tạo…

Chồng xem vợ đẻ, chẳng hay ho gì!

Nhìn vợ trong bộ dạng bà đẻ xấu xí, chắc chắn chẳng ông chồng nào muốn.

Chồng bắt bỏ công việc tốt để vào làm nhà nước

Chồng tôi muốn tôi bỏ công việc hiện tại để về quê xin vào một cơ quan nhà nước.

Một phút lỡ tay, người đàn bà 10 năm bị bạo hành vào tù vì tội giết chồng

Hối hận vì giết chồng, nữ bị cáo 54 tuổi liên tục gào khóc, run rẩy xin lỗi các con rồi bất ngờ…

Cưới xong, chồng thông báo có con riêng

Cưới nhau được 5 tháng, chồng tôi thú nhận đã có con riêng hai tuổi với một người phụ nữ khác.

“Nếu mẹ đi làm, ở nhà bố bắt con làm vợ đấy”

GiadinhNet - Mỗi lần thực hiện xong hành vi đồi bại với con gái ruột, Bùi Văn Thủy (SN 1980, trú tại xã…

13 năm làm vợ, tôi chưa một lần được 'lên đỉnh'

Lấy chồng được gần 13 năm nhưng đến giờ tôi chưa một lần được 'lên đỉnh' như những người phụ nữ khác mà…

Bí kíp gia truyền "chiều" "phi công trẻ" của cụ bà 103 tuổi trải 22 đời chồng

GiadinhNet - Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã chứng minh, phụ nữ sau khi sinh con hoặc bước vào độ tuổi…

'Phi công trẻ' thiêu xác người tình hơn chục tuổi trả giá đắt

Bị người tình lớn hơn chục tuổi chia tay, biết không thể lợi dụng, Hiếu đã hạ độc, cướp tài sản rồi thiêu…

Cay đắng phận con dâu nhà giàu

Ngày Nhung lấy chồng, ai cũng bảo số cô sướng khi được gả vào gia đình nhà giàu, chồng lại đẹp trai phong…

Tôi chỉ thích sex với người cũ

GiadinhNet - Mỗi người phụ nữ khéo léo đều muốn tự “giắt lưng” những bí quyết riêng để “giữ chân” cũng như mê…

Bị đánh dập đầu gối vì bắt quả tang chồng cặp bồ

GiadinhNet - Tôi hay tin chồng có bồ từ rất nhiều người nhưng về nói lại anh chối bay chối biến. Tôi âm…

Mâu thuẫn với bạn gái, nam thanh niên lao đầu vào ô tô chết thảm

GiadinhNet - Sau khi dùng dao chém vào đầu bạn gái bị trọng thương, hung thủ phi xe máy ra giữa đường, dừng…

8 hành vi tình dục cần tránh xa

GiadinhNet - Vợ tôi là người phụ nữ xinh đẹp, dịu dàng và hiền thục nhưng không hiểu sao lấy nhau rồi tôi…

5 sự thật về cuộc sống sau đám cưới mà ít ai ngờ

Có những cặp đôi đã yêu nhau đến 5 năm, 10 năm, chung sống với nhau trước hôn nhân, tưởng như chẳng còn…

Ế vì "vạ miệng"

So với các bạn bè cùng trang lứa, Duyên chẳng có gì kém cỏi, nếu không muốn nói là hơn hẳn về điều…

Đề cương nghiên cứu: Đề tài thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía bắc

UỶ BAN DÂN SỐ, GIA ĐÌNH VÀ TRẺ EM
VỤ GIA ĐÌNH
--------------

ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, KỸ NĂNG BẢO VỆ, CHĂM SÓC VÀ GIÁO DỤC
TRẺ EM CỦA CÁC GIA ĐÌNH KHU VỰC NÔNG THÔN PHÍA BẮC
(Qua khảo sát tại Hà Tây, Hoà Bình và Thái Bình)

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi con người sinh ra và lớn lên, nơi thế hệ trẻ được chăm lo cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức và nhân cách để hội nhập vào cuộc sống cộng đồng xã hội. Tuy không phải là thiết chế duy nhất có vai trò bảo vệ. chăm sóc và giáo dục trẻ em, nhưng môi trường gia đình vẫn được đề cao bởi bản chất của việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em xuất phát từ tình thương yêu không tính toán, từ trách nhiệm gìn giữ nòi giống, duy trì và phát triển truyền thống văn hoá của dân tộc.

Trong gia đình, trẻ được truyền thụ những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng sống qua chính thực tế cuộc sống. Vì vậy, những kiến thức, kỹ năng trẻ học được thường gắn với những tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày. Có thể coi gia đình là trường học đầu tiên, là môi trường nuôi dưỡng, giáo dục đặc biệt đối với sự phát triển của trẻ. Vì vậy, trong ba lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục trẻ, chúng ta có thể khẳng định gia đình giữ vị trí trung tâm. Điều đó xuất phát từ những đặc trưng của giáo dục gia đình.

Trong các thành viên của gia đình như ông bà, anh chị em, cô bác thì cha, mẹ là người có ảnh hưởng mạnh mẽ, lớn lao nhất tới sự hình thành nhân cách và phát triển toàn diện của trẻ. Hiệu quả của việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các bậc cha mẹ cũng như của gia đình trong lĩnh vực này.

Cùng với quá trình phát triển của đời sống xã hội, chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của gia đình cũng dần biến đổi. Sự biến đổi này mang trong mình cả yếu tố tích cực và tiêu cực. Chất lượng sống được nâng cao cả về mặt vật chất và tinh thần giúp cho trẻ em trong các gia đình hiện nay được chăm sóc tốt hơn, có cơ hội phát triển về thể lực và trí lực hơn so với thế hệ trước. Tuy nhiên, sự thay đổi của nền kinh tế đi kèm với những đòi hỏi ngày một cao của công việc, sự hối hả của nhịp sống công nghiệp đôi khi lại khiến cha mẹ không có đủ thời gian để bảo vệ, chăm sóc và giáo dục con mình. Sự lơ là, thiếu kiến thức của cha mẹ và môi trường xã hội đầy biến động đã dẫn tới những ảnh hưởng tiêu cực tới trẻ em như tình trạng tai nạn thương tích, hay hiện tượng trẻ đi học tới cấp trung học phổ thông nhưng kiến thức cơ sở cũng chưa nắm vững...

Nền kinh tế tri thức đang hình thành trên thế giới cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, đặt ra nhiệm vụ mới, không chỉ cho hệ thống thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em mà cho cả gia đình trách nhiệm giáo dục hình thành con người mới năng động, sáng tạo, tự chủ, có khả năng thích ứng nhanh, có đủ năng lực hội nhập đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao của nền kinh tế tri thức nói chung, của giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói riêng. Vì vậy, việc nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho gia đình để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ có thể đáp ứng tốt trong nền kinh tế tri thức là một vấn đề cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

Xuất phát từ những lý do như trên, chúng tôi lựa chọn đề tài "Nghiên cứu thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía Bắc”. Nghiên cứu được tiến hành tại khu vực nông thôn phía Bắc với những tỉnh có đặc thù nghề nghiệp là sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá cũng đang diễn ra mạnh mẽ làm biến đổi tính chất nền sản xuất cũng như đời sống văn hoá xã hội, phong tục tập quán của người dân. Tuy nhiên, đây cũng là khu vực với lịch sử văn hoá lâu đời – xuất thân từ cái nôi văn hoá vùng đồng bằng sông Hồng do vậy những kiến thức dân gian có ảnh hưởng nhiều của trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em. Và tại một số vùng, một số địa phương, việc tiếp cận những kiến thức và kỹ năng mới trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em còn hạn chế. Điều này dẫn tới việc các gia đình gặp khó khăn trong việc tìm nội dung và phương pháp phù hợp chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.

Đề tài nhằm tìm hiểu thực trạng kiến thức, kỹ năng trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các gia đình tại khu vực này, đồng thời tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới kiến thức, kỹ năng của các gia đình, từ đó xác định các nhu cầu đối với việc được nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ để tiến tới xây dựng mô hình nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho các gia đình thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

II. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Ở nước ngoài:
Hầu hết các nước, dù là ở vùng địa lý, văn hoá khác nhau nhưng đều thống nhất chung một quan điểm rằng môi trường tốt nhất để bảo vệ, chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ em là gia đình. Trên thế giới, rất nhiều công trình nghiên cứu, ấn phẩm đã được ra đời với nội dung cung cấp những kiến thức, kỹ năng cho các bậc cha mẹ làm tốt việc chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em. Năm 1989, nhà xuất bản Doubleday – Anh xuất bản cuốn “Vì sao cha mẹ tốt mà con lại hư” – “Why good parents have bad kids” của tác giả E. Kent Hayes đã đề cập tới việc để có một đứa con khoẻ mạnh, có ích và thành đạt thì cha mẹ cần phải có kiến thức, kỹ năng như biết lắng nghe, động viên và kiên nhẫn... Cuốn sách này đã được NXB Phụ nữ dịch ra tiếng Việt và xuất bản vào năm 2002. Tiến sỹ Y Khoa Edward Hallowell cũng đã nghiên cứu về những đặc điểm tâm lý trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ để từ đó hướng dẫn các bậc cha mẹ có cách thức thích hợp chăm sóc, giáo dục con em mình. Nghiên cứu của ông đã được xuất bản thành sách với tựa đề “When you worry about the child you love” – “Khi bạn lo lắng về đứa con yêu của mình” (NXB Phụ nữ, Hà Nội, 2003). Ở Trung Quốc, quốc gia láng giềng của Việt Nam, cho dù vẫn còn quan niệm việc nuôi dạy con cái là trách nhiệm của người mẹ, nhưng làm thế nào để người mẹ có đủ khả năng nuôi dạy con trong một thế giới với thông tin đa chiều như hiện nay cũng đã được chuyên gia tâm lý giáo dục Lưu Tiểu Hà nghiên cứu sâu trong cuốn sách “Hãy làm một người mẹ thông minh”( NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002).
Song song với các công trình nghiên cứu, rất nhiều hội nghị hay diễn đàn quốc tế đã được tổ chức để thảo luận với nội dung nâng cao hơn nữa sự đầu tư của các chính phủ đối với việc chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Một trong những nội dung được đề cập tới khi nghiên cứu việc chăm sóc, giáo dục trẻ em là vai trò quan trọng của cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em. Điều này đã đư¬ợc xác định trong văn bản của 2 diễn đàn quốc tế gần đây nhất về lĩnh vực gia đình. Đó là: Tuyên bố Hà nội (tại diễn đàn Gia đình các nước khu vực Đông Á, Hà nội, từ ngày 28 đến 30 tháng 04 năm 2004) và diễn đàn "Gia đình trong giai đoạn chuyển giao (Diễn ra tại Canberra, Australia, từ 1 đến 2 tháng 12 năm 2005). Tại hai diễn đàn này, các nước tham gia thuộc các châu lục đã khẳng định: "gia đình là đơn vị cơ bản của xã hội, có vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc nuôi dư¬ỡng, hình thành nhân cách của mỗi người".

2.2. Ở Việt Nam
Trong một vài năm gần đây đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu có liên quan đến vấn đề năng lực của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tiêu biểu là một số công trình nghiên cứu sau:

Đề tài “Vị trí, vai trò của gia đình trong sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em” do GS.TS. Phạm Tất Dong làm chủ nhiệm. Đề tài tiến hành trong 02 năm từ 1999-2000 và trên các tỉnh thuộc 3 khu vực Bắc, Trung, Nam. Đề tài đã đưa ra được thực trạng việc chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em về ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, về tiêm chủng, nhận thức đúng về trách nhiệm của gia đình phải chăm sóc sức khoẻ cho trẻ em. Đề tài cũng đã đề cập đến sự quan tâm của gia đình đối với các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí. Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu nghiên cứu về năng lực của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em, nhất là việc đề xuất các mô hình hoạt động nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia đình.

Đề tài “Thực trạng công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trong gia đình và cộng đồng sau 10 năm đổi mới” do PGS.TS. Lê Khanh là chủ nhiệm. Đề tài tiến hành điều tra 579 gia đình, 175 cán bộ và triển khai tại Bắc Kạn, Phú Thọ, Thái Bình, Hà Nội, ngoài ra còn sử dụng một số số liệu nghiên cứu tại các địa bàn như Bến Tre, TP. Hồ Chí Minh. Đề tài đã đưa ra được thực trạng nhận thức của gia đình, cán bộ về công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em; về hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em tại gia đình và cộng đồng như chăm sóc về sức khoẻ cho trẻ về sự quan tâm, tham gia vào giáo dục học tập và vui chơi của trẻ, phương pháp giáo dục trẻ, nhân tố tác động đến khả năng chăm sóc, giáo dục trẻ của gia đình. Nhưng đề tài chưa đưa ra được giải pháp cụ thể nào giúp gia đình làm tốt việc chăm sóc, giáo dục cho trẻ.

Đề tài “Những nhân tố mới bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong gia đình và cộng đồng” do TS. Lê Trung Trấn và nhóm nghiên cứu thực hiện trong tháng 9/2000 đã đưa ra kết luận là gia đình và cộng đồng có vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với trẻ em, đặc biệt đối với việc hình thành và phát triển nhân cách của con người. Vì vậy, chất lượng chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em tuỳ thuộc vào nhận thức, điều kiện, kỹ năng, khả năng thực hiện của gia đình và cộng đồng.
Đề tài “Gia đình, trẻ em và sự kế thừa các giá trị truyền thống” do PGS.TS Đặng Cảnh Khanh và nhóm nghiên cứu tiến hành năm 2003, với 800 mẫu gia đình được điều tra tại Hà Nội, Huế, Hà Tây để tìm hiểu mức độ quan tâm của gia đình đối với việc chăm sóc, giáo dục cho con cái và giáo dục các giá trị gia đình truyền thống cho con cái trong các gia đình hiện nay.

Năm 2005, Dự án tư vấn kỹ thuật “Hỗ trợ phát triển trẻ thơ trong các gia đình nghèo ở Việt Nam” do Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em thực hiện. Dự án tiến hành trên quy mô lớn ở 40 tỉnh thành trong cả nước. Dự án đã đi sâu phân tích tình hình nhu cầu chăm sóc, giáo dục, sức khoẻ của trẻ thơ. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị cần cung cấp các dịch vụ phát triển trẻ thơ đến các gia đình, tập trung vào trẻ em từ 0-3 tuổi và trẻ em ở các vùng khó khăn; Hỗ trợ cho các gia đình nghèo cùng với các chính sách thực hiện cho trẻ em trong các gia đình nghèo và trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn để các em có thể tiếp cận các dịch vụ chăm sóc giáo dục mầm non miễn phí. Tuy nhiên, dự án chủ yếu mới chỉ tìm hiểu về thực trạng tình hình chăm sóc và giáo dục trẻ thơ, và có hỗ trợ cho các gia đình nghèo, khuyến nghị miễn phí học cho các cháu. Vấn đề tìm hiểu về năng lực, các kỹ năng chăm sóc, giáo dục của gia đình đối với trẻ em chưa được đề cập đến.

Nhìn chung, các dự án, đề tài đã tiến hành nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các khía cạnh khác nhau về vai trò, vị trí, biện pháp của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em. Chưa có dự án, đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt, đi sâu tìm hiểu vấn đề năng lực của gia đình trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ em. Trong khi đó, cùng với sự biến đổi của đời sống kinh tế – xã hội và quá trình hội nhập, chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em dần biến đổi. Nếu như một bộ phận các bậc cha mẹ vẫn chưa kịp cập nhật những kiến thức và kỹ năng mới thì sự đa dạng của kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực này đôi khi khiến các bậc cha mẹ khác lúng túng, không biết nên sử dụng phương pháp hay nội dung giáo dục nào cho phù hợp với trẻ em. Mặt trái của sự phát triển kinh tế cũng khiến cho nhiều gia đình tập trung vào việc lao động, sản xuất mà xao nhãng hoặc tạm thời gán trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cho nhà trường và xã hội. Điều này đã dẫn tới những thực trạng đáng buồn như tình trạng trẻ em lang thang, vi phạm pháp luật, bị xâm hại hoặc tham gia vào các tệ nạn xã hội. Thêm nữa, cho tới nay, chưa có một mô hình nào được xây dựng nhằm cung cấp và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các gia đình, giúp các gia đình thực hiện tốt hơn chức năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu chuyên sâu vấn đề kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của gia đình rất cần thiết để thấy được những khó khăn, thách thức của gia đình từ đó xác định các nhu cầu và đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.

III. MỤC ĐÍCH, MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía Bắc nhằm xây dựng mô hình củng cố và nâng cao kiến thức, kỹ năng cho các gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

3.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bà trong các gia đình. Tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng kiến thức và kỹ năng chăm sóc, giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bà trong các gia đình.
- Xác định nhu cầu của các gia đình đối với nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
- Đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng mô hình can thiệp nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình trên cơ sở các nhu cầu thực tế.

IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1. Giới thiệu cơ sở lí luận của việc đánh giá kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình.
2. Phân tích thực trạng kiến thức và kỹ năng của cha mẹ, ông bà trong các gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Tìm hiểu những điều kiện chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới thực trạng kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bà trong các gia đình.
3. Tìm hiểu nhu cầu của các gia đình đối với nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
4. Xây dựng nội dung hoạt động của mô hình nâng cao năng lực cho các gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
5. Đề xuất giải pháp nhằm triển khai xây dựng mô hình nâng cao năng lực cho các gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em

V. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

1. Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình khu vực nông thôn phía Bắc.
2. Khách thể nghiên cứu
- Cha/mẹ của trẻ
- Ông/ bà của trẻ
- Giáo viên
- Lãnh đạo chính quyền và đại diện các ban ngành đoàn thể có liên quan

VI. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1. Về nội dung
Kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một vấn đề có phạm vi rộng. Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu làm rõ thực trạng kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bà cũng như xác định các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng này. Trên cơ sở đó đề xuất mô hình can thiệp nhằm củng cố và nâng cao kiến thức và kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bà trong các gia đình.
2.Về địa bàn nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và khả năng kinh phí có hạn nên đề tài tập trung nghiên cứu tại 3 tỉnh: Hà Tây, Thái Bình và Hoà Bình. Mỗi tỉnh chọn 1 huyện, mỗi huyện chọn 2 xã để khảo sát nghiên cứu.

VII. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN:

-Khái niệm "trẻ em": Trẻ em trong nghiên cứu này được quy định theo Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.
-Khái niệm "kiến thức", "kỹ năng".

VIII. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Xác định chỉ báo đánh giá thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của cha mẹ, ông bà:
* Chỉ báo đánh giá thực trạng kiến thức về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em:
- Biện phỏp phũng trỏnh tai nạn cho trẻ em dưới 6 tuổi: tai nạn thương tớch, tai nạn giao thụng, bị xõm hại.
- Biện phỏp phũng trỏnh tai nạn cho trẻ từ 6 đến 16 tuổi: tai nạn thương tớch, tai nạn giao thụng, bị xõm hại, cỏc tệ nạn xó hội.
- Sự phát triển về thể chất của trẻ em (dưới 6 tuổi, từ 6 đến 16 tuổi): dinh dưỡng, giác quan, vận động, tâm sinh lý.
- Chăm sóc: vệ sinh, giấc ngủ, dinh dưỡng, sức khoẻ; tiêm chủng, thuốc dự phòng trong gia đình.
- So sánh sự quan trọng giữa 3 môi trường: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Đánh giá trên từng khía cạnh: tri thức, đạo đức, hướng nghiệp, giới tính.
- Nội dung giáo dục trẻ (dưới 6 tuổi, từ 6 đến 16 tuổi).
- Sự khác biệt giữa nội dung giáo dục trẻ em trai và trẻ em gái. (dưới 6 tuổi, từ 6 đến 16 tuổi).
- Cha mẹ, ông bà dành thời gian giáo dục trẻ em. (dưới 6 tuổi, từ 6 đến 16 tuổi).
* Chỉ báo đánh giá thực trạng kỹ năng bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em:
- Kỹ năng xử lý khi trẻ bị tai nạn thương tích, tai nạn giao thông, khi bị xâm hại, khi bị lụi kộo vào cỏc tệ nạn xó hội.
- Kỹ năng của cha mẹ giúp trẻ phát triển về thể chất, dinh dưỡng, vận động, ngôn ngữ, giác quan
- Kỹ năng chăm sóc vệ sinh, giấc ngủ, dinh dưỡng, sức khoẻ.
- Người trực tiếp chăm sóc trẻ trong gia đình.
- Phương pháp dạy trẻ làm quen với cuộc sống xung quanh: tập nói, giao tiếp, làm những việc đơn giản.
- Góc học tập dành cho trẻ, dụng cụ học tập.
- Số trẻ phải nghỉ học hoặc tạm thời nghỉ học, bị lưu ban. Thời điểm, lý do
- Chi phí dành cho việc học tập của trẻ trên tổng thu nhập của gia đình.
- Trẻ có được đi học đúng tuổi hay không.
- Thời gian của gia đình dành cho trẻ để học tập. Thời gian này đã phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của trẻ hay chưa.
- Thời gian dành cho việc giáo dục trẻ của cha mẹ: hướng dẫn học tập, giáo dục các giá trị đạo đức, văn hoá, các định hướng về nghề nghiệp, giáo dục giới tính; vui chơi cùng trẻ
- Phương pháp giáo dục trẻ trong các lĩnh vực học tập, cách ứng xử, giá trị đạo đức và văn hoá, giáo dục giới tính. Thái độ của trẻ đối với các phương pháp.
- Cách thưởng, phạt trẻ.
- Người làm chính những công việc: dạy con học, liên lạc với nhà trường, định hướng học tập nghề nghiệp, chia sẻ mỗi khi con gặp khó khăn.
- Những khó khăn gặp phải trong việc giáo dục trẻ: trong học tập, giáo dục đạo đức văn hoá, giáo dục giới tính, định hướng nghề nghiệp.
2. Thực trạng kiến thức và kỹ năng của cha mẹ, ông bà trong các gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Phân tích thực trạng kiến thức và kỹ năng của cha mẹ, ông bà trong các gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
- Những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng kiến thức và kỹ năng của cha mẹ, ông bà trong các gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
+ Yếu tố chủ quan
- Nhận thức, thái độ của cha mẹ về tầm quan trọng của gia đình đối với việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.
- Đặc điểm của chủ thể giáo dục (cha mẹ): trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức thu nhập, …
- Khả năng tiếp cận thông tin của cha mẹ đối với lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em.
- Yếu tố tự giáo dục của cha mẹ
+ Yếu tố khách quan
- Trên quan điểm của Đảng và Nhà nước: các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; việc triển khai các chính sách của Đảng và Nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội, của ngành giáo dục.
- Từ thực tế cộng đồng: Điều kiện kinh tế xã hội của địa phương; phong tục, tập quán địa phương.
- Phân tích thực trạng công tác bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình
+ Những hoạt động đã/ đang có ở địa phương liên quan tới việc nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc ông/bà, cha/mẹ.
+ Tính phù hợp, sự hiệu quả của các hoạt động này đối với người dân địa phương.
3. Nhu cầu, nguyện vọng của cha mẹ về việc bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
- Nhu cầu bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng
- Nhu cầu cung cấp thông tin
- Nhu cầu cải thiện các điều kiện sống
4. Xây dựng nội dung của mô hình can thiệp nâng cao kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em cho cha mẹ
- Về cơ cấu tổ chức, qui mô của mô hình
- Về nội dung hoạt động
- Về phương thức hoạt động
5. Đề xuất một số giải pháp triển khai xây dựng mô hình
- Giải pháp về nhận thức
- Giải pháp mang tính chỉ đạo để xây dựng mô hình
- Giải pháp mang tính tác động để triển khai xây dựng mô hình
- Giải pháp về cơ chế phối hợp với các ban ngành đoàn thể liên quan trong việc triển khai xây dựng mô hình
6. Kết luận và khuyến nghị

IX. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1. Quan điểm tiếp cận trong nghiên cứu
1.1.Tiếp cận theo quan điểm phát triển
Gia đình được ví như cơ thể sống luôn vận động, biến đổi. Theo đó, cơ cấu, vai trò, chức năng của gia đình cũng như vị thế, vai trò, thái độ, hành vi của các thành viên trong gia đình, đặc biệt là của cha mẹ, những người chủ của gia đình, đồng thời là chủ thể của hoạt động bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong gia đình cũng không ngừng vận động, thay đổi và phát triển theo. Chính vì thế, cần xem xét kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc cha mẹ trong sự vận động, biến đổi phát triển của gia đình.

1.2. Tiếp cận theo quan điểm giới
Kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ của các bậc cha mẹ còn phụ thuộc vào giới tính của chủ thể và khách thể giáo dục, cụ thể là tuỳ thuộc vào trẻ trai hay trẻ là gái mà bố hay mẹ có những nội dung chăm sóc, giáo dục khác nhau với những biện pháp chăm sóc, giáo dục khác nhau.

2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.1.Phương pháp phân tích tài liệu
- Tổng hợp và phân tích hệ thống các quan điểm, chính sách về giáo dục gia đình, kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc cha mẹ ở trên thế giới và Việt Nam.
- Tổng hợp và phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu, các kết quả điều tra khảo sát, các báo cáo tổng hợp về tình hình kinh tế xã hội chung của địa bàn nghiên cứu. Tổng quan các kết quả nghiên cứu khoa học đã được thực hiện có liên quan đến đề tài để đánh giá được những thành tựu, hạn chế của đề tài và vấn đề nghiên cứu đặt ra.

2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (ankét)
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được sử dụng nhằm phát hiện thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc cha mẹ, ông bà hiện nay và những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng năng lực đó. Đối tượng điều tra bằng bảng hỏi là các bậc cha mẹ, ông bà trong gia đình.

2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Nhằm nghiên cứu sâu hơn các chủ đề về thực trạng kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc cha mẹ mà trong bảng hỏi không có điều kiện đi sâu làm rõ. Đồng thời nghiên cứu tâm lý và kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của một số cá nhân cha mẹ có tính đại diện và điển hình. Bên cạnh đó, tiến hành tìm hiểu quan điểm của các đối tượng như giáo viên về kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các gia đình.

2.4. Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp này được sử dụng nhằm hỗ trợ cho phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được tiêu chuẩn hóa, để tìm hiểu sâu hơn những vấn đề nghiên cứu về kiến thức, kỹ năng bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em của các bậc cha mẹ mà trong phiếu điều tra bằng bảng hỏi chưa có điều kiện đi sâu).

2.5. Phương pháp chọn mẫu
* Phỏng vấn bằng bảng hỏi:
Tại 1 xã:
- 100 cha/ mẹ có con dưới 6 tuổi
- 100 cha/ mẹ có con trong độ tuổi từ 6 đến dưới 16 tuổi.
* Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm: 3 thảo luận nhóm và 9 phỏng vấn sâu được tiến hành
Tại 1 xã:
- 1 thảo luận nhóm cha mẹ có con dưới 16 tuổi.
- 1 thảo luận nhóm ông, bà.
- 1 thảo luận nhóm dành cho nhóm cán bộ chính quyền đoàn thể
- 2 phỏng vấn sâu cha/ mẹ theo 2 nhóm tuổi như trên
- 3 PVS giáo viên: 1 PVS giáo viên mầm non, 1 PVS GV tiểu học, 1 PVS GV Trung học
- 1 PVS cán bộ Y tế, 1 PVS công an xã.
- 2 PVS dành cho đối tượng ông và bà.

2.6. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu định lượng nghiên cứu trong đề tài được xử lí theo chương trình SPSS For Windows 13.0 (Statistic Package for Social Sience). Số liệu sau khi xử lí được biểu thị dưới dạng bảng tần số và bảng tương quan, cùng một số chỉ số thống kê được rút ra theo yêu cầu cần phân tích, lý giải của đề tài.
Các tư liệu định tính thu được qua các cuộc phỏng vấn sâu và các cuộc toạ đàm được tổng hợp, phân tích.

X. KHUNG LÝ THUYẾT

XI. CÁC SẢN PHẨM CỦA ĐỀ TÀI
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu và báo cáo tóm tắt
- Kết quả xử lý phiếu điều tra xã hội học, tổng hợp biên bản thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu.
- 1 đĩa mềm vi tính lưu kết quả xử lý

XII. KẾ HOẠCH THỰC HIỆN


XIII. KINH PHÍ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
Tổng kinh phí: 200.000.000 đồng (Có bản dự toán chi tiết kèm theo)

XIV. TỔ CHỨC THỰC HIỆN
- Cơ quan chủ quản: Bộ Khoa học và Công nghệ
- Cơ quan chủ trì đề tài: Vụ Gia đình, Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em
- Cơ quan phối hợp nghiên cứu đề tài:
+ Viện Khoa học Dân số, Gia đình và Trẻ em, UBDSGĐTE.
+ Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em tỉnh Thái Bình, Hoà Bình
+ Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em các huyện và xã thuộc địa bàn nghiên cứu
* Nhóm nghiên cứu:
- Chủ nhiệm đề tài: TS. Ngô Thị Ngọc Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Gia đình
- Thư ký đề tài: Ths. Phạm Bích Thuỷ, CN. Bùi Bích Hà, Vụ Gia đình
- TS. Nguyễn Thị Bích Điểm- Viện nghiên cứu thanh niên
- TS. Đỗ Thị Bích Loan-Viện chiến lược và chương trình giáo dục Bộ GD&ĐT
- Ths. Tào Thị Hồng Vân-Khoa sư phạm, Đại học Sư phạm Hà Nội
- Ths. Hoa Hữu Vân, Vụ Gia đình
- CN. Phạm Quốc Nhật, Vụ Gia đình
- CN. Hoàng Thị Tây Ninh, Vụ Gia đình
- CN. Đỗ Thị Kim Cúc, Vụ Gia đình
- CN. Nguyễn Thị Thanh- Viện KHDSGĐTE
Hà Nội, ngày tháng năm 2007
CƠ QUAN CHỦ TRÌ CHỦ NHIỆM

 

(Chào mừng Ngày Gia đình Việt Nam 28/6)

Banner phải 2